Chuối trổ 5 buồng vui mắt

Cả tuần nay, hàng trăm người dân đổ xô về nhà bà Nguyễn Thị Nhung ở khu phố Lai Phước, phường Đông Lương, thành phố Đông Hà (Quảng Trị ) để mục sở thị cây chuối trổ 6 buồng.

Bà Nhung thuyết minh về cây chuối của mình như sau: cây chuối sứ được gia đình bà trồng cách đây 3 năm. Những năm trước, các cây chuối mọc chung gốc trổ trái bình thường, riêng cây chuối này là tốt nhất với chiều cao khoảng 2,5m, thân bậm lại trổ đến 6 buồng.

Bà Nhung cho biết thêm, cách đây khoảng 7 ngày, vẫn thấy cây chuối trổ 1 buồng bình thường, khoảng 3 ngày lại có thêm 2 buồng nữa trổ ra hai bên, đến ngày thứ 7 thì trổ thêm 3 buồng nữa. Mặc dù những buồng sau có nhỏ hơn nhưng vẫn cho hoa và trái bình thường.

Tham khao ban thuyet minh ve cay chuoi 5 buong: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-17564-bai-van-thuyet-minh-ve-cay-chuoi-bai-moi.html

Kinh doanh làm giàu từ cây chuối

Ông Lê Tân Phong – Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lào Cai cho biết: Cây chuối ghép mô là loại cây trồng mới có tính ưu việt so với giống địa phương bởi sau vụ thu hoạch giữ lại một cây con khỏe nhất cho vụ tiếp theo và giữ lại cây mẹ để cung cấp nước dự trữ cho cây con.

Theo tài liệu thuyết minh về cây chuối phục vụ sản xuất kinh doanh của ngành nông nghiệp thì cây chuối cao sản mỗi năm thu 1 vụ và trong 3 năm liên tục mới phải thay gốc mới. Với năng suất trung bình từ 54 – 60 tấn/ha, giá bán từ 6.000 – 12.000 đồng/kg trừ chi phí mỗi ha chuối cho thu lãi gần 150 triệu đồng. Đây là nguồn thu không nhỏ đối với nông dân. Đầu ra cho sản phẩm được chủ đầu tư bao tiêu nên bà con yên tâm sản xuất.

Toàn tỉnh Lào Cai hiện có trên 300 ha chuối cấy ghép mô, trồng tập trung ở các huyện Bát Xát và Mường Khương, giá trị kinh tế đem lại gần 100 tỷ đồng/năm. Sau khi tỉnh có chủ trương chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đưa cây trồng mới có hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất trên diện rộng, nông dân hai huyện đã đưa cây chuối cấy mô trở thành một trong những loại cây chủ lực, góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao vốn quen với tư duy đơn giản và cách làm cụ thể.

Từ năm 2005 trở lại đây, ngành nông nghiệp huyện Bát Xát có bước phát triển vượt bậc, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch mạnh theo hướng hàng hóa. Từ tiềm năng vốn đất, ngoài việc thâm canh tăng vụ nông dân Bát Xát đã từng bước tiếp cận, áp dụng khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất nông nghiệp mang lại lợi ích kinh tế thiết thực. Năm 2010, cây chuối xuất khẩu đã được đưa vào trồng thử nghiệm tại các xã A Mú Sung, Quang Kim, Cốc Mỳ và Phìn Ngan. Hiện huyện Bát Xát có 115 ha chuối đang thời kỳ cho thu hoạch. So với nhiều cây trồng khác, trồng chuối đầu tư chăm bón ít nhưng giá trị kinh tế mang lại rất cao, trung bình thu 250 triệu/ha. Đối với chuối trồng trên đất soi bãi và ruộng một vụ, nếu đầu tư thâm canh cao thì năng suất đạt 35-40 tấn/ha, mỗi ha trồng chuối thu khoảng 440 triệu/năm, trừ chi phí còn lợi nhuận từ 200-250 triệu/ha.

Điều đáng nói là cây chuối được phát triển ở những nơi đất dốc xưa nay ít được khai thác sử dụng. Với ưu điểm là loại cây không đòi hỏi nhiều công sức chăm sóc, vốn đầu tư thâm canh ít, đầu ra thuận lợi và ổn định, chủ trương phát triển trồng chuối đã được đồng bào hưởng ứng. Tại xã biên giới A Mú Sung, xưa nay vốn loay hoay bài toán trồng cây gì, nuôi con gì để làm giàu, nhưng từ năm 2010 trở lại đây toàn xã đã trồng gần 50 ha chuối xuất khẩu, đời sống bà con được cải thiện rõ rệt. Ông Ma Seo Páo – Trưởng thôn Lũng Pô 2, huyện Bát Xát (Lào Cai) cho biết: Cây chuối được bà con người Mông trồng và chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật mà cán bộ khuyến nông đã dặn, vì vậy năng suất mỗi buồng được khoảng 25 kg, với giá cả như hiện nay bà con sẽ có lãi gấp 5 đến 8 lần trồng ngô, lúa.

Từ thực tế nhiều vụ trồng chuối trên đồng đất Bát Xát, Mường Khương cho thấy đây là loài cây thân thiện với môi trường, chống được tình trạng sa mạc hóa nhờ tỷ lệ che phủ lớn và thân chứa nhiều nước, sau khi phân hủy cung cấp nhiều dinh dưỡng cho đất. Cây chuối đang là loại cây trồng chiếm ưu thế trên các vùng đất dốc bán sơn địa và được đưa vào trồng đồng loạt trên diện rộng, xuất khẩu ra nước ngoài, góp phần xóa đói, giảm nghèo và làm giàu cho hàng trăm hộ gia đình ở vùng cao biên giới Bát Xát.

Xem bai thuyet minh ve cay chuoi cao san trong kinh doanh: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-17564-bai-van-thuyet-minh-ve-cay-chuoi-bai-moi.html

Tiếng thơ hào sảng về đất nước

Xưa nay, nhiều bài thơ hay lại được nhà thơ viết rất nhanh, có vẻ như “xuất thần”. Trái lại, có những bài thơ được nung nấu kỹ lưỡng khi hoàn thành chưa hẳn làm ưng ý tác giả, nhất là về cảm xúc, sự xộc xệch trong kết cấu… Đất nước của Nguyến Đình Thi có lẽ là trường hợp ngoại lệ. Nó được thai nghén từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (năm 1948,1949) và hoàn thành khi cuộc kháng chiến ấy đã kết thúc (năm 1955). Dĩ nhiên, đó phải là thành công của nhà thơ có tài. Nhưng điều quan trọng hơn chính là do tác phẩm ấy được tạo dựng nên từ những cảm xúc, suy nghĩ của Nguyến Đình Thi về một chủ đề lớn: Đất nước !
Khởi đầu phân tích bài thơ đất nước là những cảm xúc trực tiếp trong một sáng mùa thu, gợi nỗi nhớ về Hà Nội:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Đó cũng là ấn tượng về một mùa thu Hà Nội : không khí mát trong, gió nhẹ thổi và phảng phất mùi hương cốm mới. Câu thơ gợi tả cả không gian, màu sắc và hương vị, “đồng hiện” cả thời gian và quá khứ và hiện tại, trộn lẫn hình ảnh trong thực tại và hình ảnh trong hoài niệm.
Hương cốm mới là nét đặc sắc của mùa thu Hà Nội. Dường như đó là kết tinh của tất cả hương vị đất trời, cây cỏ mùa thu Hà Nội. Thạch Lam từng viết về cốm, món quà đặc biệt của mùa thu Hà Nội :
Phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ… là thức dâng của cánh đồng bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị mà thanh khiết của đồng quê nội cỏ.
(Hà Nội băm sáu phố phường )

Khi đi sâu phân tích bài thơ đất nước càng thấy rõ hương cốm cũng đã đi vào nhạc của Trịnh Công Sơn ( Nhớ mùa thu Hà Nội) cùng với cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ… làm thành nét thanh tao, gợi nhớ mùa thu Hà thành:
Hà Nội mùa thu/ Cây cơm nguội vàng / cây bàng lá đỏ / nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ / mái ngói thâm nâu / … Hà Nội mùa thu / mùa thu Hà Nội / mùa hoa sữa về / thơm từng cơn gió / mùa cốm xanh về / thơm bàn tay nhỏ / cốm sữa vỉa hè / thơm bước chân qua…
Tham khao bai van phan tich bai tho dat nuoc: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-14992-phan-tich-bai-tho-dat-nuoc-cua-nguyen-khoa-diem-bai-hay.html

Kết cấu của bài thơ Đất Nước

Đất nước là bài thơ có kết cấu độc đáo, do đó cần phân tích sâu để làm rõ vấn đề quan tâm. Thí sinh khi phân tích bài thơ đất nước cần nắm kỹ:

Nhà thơ đưa người đọc vào thế giới cảm xúc của mình theo lối hứng của ca dao, dân ca. Khởi đầu là cảm xúc về một sáng mùa thu, mùa thu thiên nhiên, đất trời, gợi nhớ về mùa thu đã xa của Hà Nội. Rồi từ mùa thu thiên nhiên, đất trời, gợi nhớ về mùa thu của đất nước, mùa thu của cách mạng với niềm xúc động đầy tự hào được làm chủ đất nước. Và, từ đó lại nghĩ về đất nước trong chiến tranh, giải phóng, về những con người từ trong đau thương căm hờn đứng lên chiến đấu – những anh hùng quần chúng. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh mang tính biểu tượng về sự vươn mình vĩ đại của đất nước và con người Việt Nam trong thời đại mới.
– Sự vận động của tư tưởng – cảm xúc của bài thơ phát triển theo hướng cảm nhận và suy ngẫm của tác giả về đất nước. Bởi vậy :
+ Phần sau của bài thơ có nhiều hình ảnh khái quát, hình ảnh mang tính biểu tượng hoặc hình ảnh hiện thực nhưng đã được mở rộng ý nghĩa theo hướng khái quát.
+ Sự chuyển biến của nhịp điệu, âm hưởng theo dòng cảm xúc : Từ nhịp chậm với những âm cao và trong => trầm xuống khi lắng nghe mạch sống bất diệt của đất nước => dồn dập, cuộn sôi, tuôn chảy => hào sảng, bừng sáng.
Doc nhieu hon ve ket qua phan tich bai tho dat nuoc: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-14992-phan-tich-bai-tho-dat-nuoc-cua-nguyen-khoa-diem-bai-hay.html

Hiểu rõ hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Đất Nước để phân tích

- Đất nước là bài thơ ngắn (49 dòng ) nhưng lại được sáng tác trong thời gian dài (1948- 1955). Qua sử liệu này để thấy được cái cần phân tích cho bài thơ Đất Nước.
– Tiền thân là bài thơ Sáng mát trong như sáng năm xưa (đăng báo Văn nghệ số 6, tháng 10 và 11/1948) và bài Đêm mít ting (Văn nghệ Xuân 1949). Cả hai bài thơ đều được viết tại Việt Bắc, trong tâm trạng nhớ về Hà Nội của tác giả.
– Phần đầu từ Sáng mát trong… Trong biếc nói cười thiết tha được lấy từ bài thơ thứ nhất. Kế đến nối vào đoạn cuối bài thơ thứ hai và cả ý của bài đầu cho đến : Những buổi ngày xưa vọng nói về. Đoạn từ Ôi cánh đồng quê… cho đến hết bài được Nguyến Đình Thi viết vào năm 1955.
Như vậy, bài thơ hình thành từ ba mảnh khác nhau, trong thời gian dài, nhưng vẫn là tác phẩm hoàn chình, liền mạch, nhất quán nhờ kết nối bởi mạnh cảm xúc về đất nước.
Phan tich bai tho dat nuoc: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-14992-phan-tich-bai-tho-dat-nuoc-cua-nguyen-khoa-diem-bai-hay.html

 

Áo dài đỏ thường dùng trong lễ cưới, hỏi của người Việt

Căn cứ theo những chứng liệu này để thuyết minh về chiếc áo dài, có thể khẳng định chiếc áo dài với hình thức cố định đã ra đời và chính thức được công nhận là quốc phục dưới triều chúa Nguyễn Vũ Vương (1739-1765). Vào thời này, các văn bản tại Việt Nam dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm[2], áo dài viết bằng chữ Nôm là 襖長.

Một vài tài liệu quy kết việc ra đời của chiếc áo dài quốc phục là do những tham vọng riêng tư của chúa Nguyễn Phúc Khoát. Do muốn xưng vương và tách rời Đàng Trong thành quốc gia riêng, nên ban sắc dụ về ăn mặc như trên cho khác đi, không phải với người khách trú mà với Bắc triều (trong quy định này đã có cả chỉ thị phụ nữ phải mặc quần hai ống). Sau thấy quần hai ống khêu gợi quá, Vương mới giao cho triều thần pha phối từ mẫu áo dài của người Chăm (giống như áo dài phụ nữ Việt Nam ngày nay, nhưng không xẻ nách) và áo dài của phụ nữ Thượng Hải (chiếc sườn xám) để “chế” ra cái áo dài của phụ nữ Việt Nam (Xem thêm Liên kết ngoài, bài Sự Tích Áo Dài Việt Nam). Chiếc áo dài đầu tiên giống như áo dài người Chàm và có xẻ nách.

Thật ra chiếc sườn xám cũng chỉ ra đời quãng thập niên 1930, và quan điểm trên quá thiên nặng về tính chống phong kiến nên vô hình chung đề cao vai trò của Vũ Vương như là “nhà thiết kế áo dài hiện đại đầu tiên”.

Tham khảo: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-15004-thuyet-minh-ve-chiec-ao-dai-bai-van-chon-loc.html

Đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay

Sử học lý giải khi thuyết minh về chiếc ái dài như sau: Chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa Trung Hoa, cho đến thế kỷ 16 lối ăn mặc của người Việt Nam vẫn thường hay bắt chước lối của người phương Bắc, đặc biệt dưới thời các chúa Nguyễn xứ Đàng Trong do nhu cầu khai phá khẩn hoang, đón nhận hàng vạn người Minh Hương (còn gọi là người Khách Trú hay đọc trại thành “cắc chú”) bất mãn với nhà Thanh sang định cư lập nghiệp, mặc dù người Việt cũng có lối ăn mặc riêng.

Trước làn sóng xâm nhập mới này, để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong phải theo đó thi hành. Trong sắc dụ đó, người ta thấy lần đầu tiên sự định hình cơ bản của chiếc áo dài Việt Nam, như sau: “Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở.

Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép …” (sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên). Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn viết “Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu cho chiếc áo dài như vậy”.

Xem thêm tại: http://onlinenews.vn/chi-tiet/91-15004-thuyet-minh-ve-chiec-ao-dai-bai-van-chon-loc.html